Tập thơ này lẽ ra đã có mặt từ lâu.
Nếu không vì tôi là lý do chậm trễ.
Tôi biết tác giả qua nhà văn Đỗ Hoàng Diệu. Anh là một người Việt hiện sống tại Canada nhưng thường xuyên về nước làm việc. Những lần ngồi trò chuyện với anh ở Hà Nội tôi thấy anh là một người hiền hậu, tình cảm. Rồi một hôm Diệu bảo tôi anh có ý định in một tập thơ trong nước. Tôi bảo Diệu nói với anh cứ gửi thơ về. Anh gửi ngay, tin cậy Diệu và tôi. Lẽ ra như thế đọc xong, biên tập, là có thể in được ngay. Anh có ngỏ ý tôi viết cho anh ít dòng. Tôi nhận lời. Vậy mà lần lữa tháng năm trôi đi, tập thơ vẫn chưa ra đời được.
Lỗi là ở tôi.
![pxn[1] pxn[1]](http://quechoablog.files.wordpress.com/2009/07/pxn1.jpg?w=400&h=301&h=301)
Anh là một kỹ sư. Nhưng khi thoát thân thành một người làm thơ anh lấy cho mình bút danh Thăng Trầm. Tôi không được biết cuộc đời anh. Tôi không rõ hoàn cảnh sống của anh. Những dòng thơ anh viết mở cho tôi thấy một con người luôn đắm chìm trong những mộng mơ tình cảm buồn thương tiếc nuối về một khung trời cũ có người em người tình người mộng nhiều hò hẹn nhớ thương mà ít gặp gỡ, sum vầy. Thơ anh rất cổ về thể điệu, giọng điệu, tình điệu. Thơ anh đọc nghe như hát, mà thực là nhiều bạn bè anh đã phổ một số thơ anh thành nhạc. Những bản nhạc thơ đó nếu hát lên, tấu lên chắc sẽ gợi những xúc cảm buồn thương man mác.
Tôi đã đọc hết tập bản thảo của anh. Điều trước tiên tôi bàn cùng anh là tập thơ không đứng tên tác giả Thăng Trầm. Anh đồng ý. Điều thứ hai tôi đề nghị anh lấy tên tập thơ là Chênh vênh. Anh chấp nhận. Còn điều thứ ba là lời giới thiệu của tôi thì tôi đã lỡ hẹn với anh biết bao lần. Để tập thơ, vì vậy, đã xong tên sách tên tác giả, đã chọn lựa bài, nhưng vẫn phải nằm chờ lời giới thiệu.
Tôi đã có lỗi.
Có phải thơ anh đã làm tôi buồn tình người mỏng manh nên ngập ngừng lời viết? Có phải thơ anh đã làm tôi thương phận người xa xứ nên ngại ngần bâng khuâng? Có phải thơ anh đã ru tôi bằng nhịp đều đều câu chữ ý tình nên e cất tiếng làm phá vỡ khoảng không mông lung? Có thể có những lẽ ấy. Có thể còn cái lẽ là tôi chưa đồng cảm hết với thơ anh, chưa nhập được hồn anh, băng qua những con chữ bình thường, trầm lặng. Thơ anh là khúc điệu trầm. Anh viết cho chính anh, và cho đối tượng của lòng anh. Anh muốn in thơ ra cũng để trang trải lòng mình, hồn mình với những người quen kẻ thuộc. Khi đã hiểu nhau, câu chữ nào có ràng buộc gì lắm. Nhịp du dương có thể thấm lòng người.
Con người ta ai cũng có nhu cầu bộc lộ và tỏ bày tình cảm. Thơ sinh ra với con người là một cách thực hiện nhu cầu đó. Trước khi là nghệ thuật, thơ là tiếng lòng. Tình cảm con người lên xuống uốn lượn khó lường khó nắm nên tiếng lòng hiện ra thành thơ có nhịp có điệu có bổng trầm ngắn dài. Thơ anh cũng vậy. Anh cốt nói lên được những chất chứa của lòng mình. Anh không nệ khuôn sáo trong cách đặt câu, lựa chữ, bắt vần. Anh không nệ ý cũ hình cũ. Nỗi nhớ nỗi yêu thì có bao giờ cũ. Nỗi đau nỗi buồn thì có bao giờ cũ. “Ta trong trời mới hồn không mới / Tình vẫn khua trên mái lá vàng” (Du Tử Lê). Còn anh, sau hết cả vẫn thấy “chỉ còn tôi và tôi”. Để rồi người tình trong anh chợt nhận ra “bụi bám cả đời tôi”. Và như thế, thơ anh lại có một vẻ riêng của anh. Chênh vênh.
Tôi đã có lỗi không cùng sớm chênh vênh với anh.
Nhưng cuối cùng tôi đã được chênh vênh cùng/với anh như vậy.
PHẠM XUÂN NGUYÊN
—————————————————–
chênh vênh
có những chiều buồn
và mưa chưa tắt nắng
một chút muộn phiền
chưa khăn gói ra đi
những đáng yêu thơ
như gió nghịch không ngờ
rồi như không thể,
không thể còn ray rứt
mơ cứ bay,
cứ bay quần bởi gió
cuộc thăng trầm,
như bỏ lại mỗi tôi
biển mù tăm
không biết trải bao năm
giật mình tỉnh
lòng hoang vu đầy gió
chiếc ghế trống
vẫn chờ em chưa tới
thấy thật gần
hình như vẫn quá xa
mới hôm qua
sao đến nỗi…. hay là
bổng dưng thấy
đời chênh vênh điên đảo
5.07.08
NQ