Nguyễn Trãi & Nguyễn thị Lộ, chuyện xưa, nghĩ đến nay
Đó là chuyện ngày xưa, ngày mà Đại Việt bị hăm doạ thôn tính bởi 1 nước lạ
Chuyện dã sử mới viết cách đây không lâu, và được một VK dựng làm phim . Nhiều nhiều ẩn ý, lấy chuyện xưa về thời cung đình toàn tham nhũng.
Ngày nay, chuyện cung đình thời xưa đang diễn lại
Trong chuyện Nguyễn Trãi/Thị Lộ, mọi tình huống (tranh dành quyền lực, ảnh hưởng), thói trăng hoa, tánh thích gái của chóp bu (Lê Thái Tông, khoảng 20t, có hằng trăm quí phi và 5 vợ), v.v ngày xưa cũng như ngày nay.
Một văn sĩ Pháp, Yveline Feray, viết thành tiểu thuyết sau khi nghiên cứu và gặp nhiều sử gia, trong đó có nhiều thủ lãng CS như VN Giáp, PV Đồng.
Thị Lộ được xem là 1 trong 7 người đẹp nhất trong lịch sử VN, như HT Công Chúa.
“ Nhan sắc Thị Lộ làm đắm say Nguyễn Trãi khi ông đã có sự nghiệp, có thê thiếp, ở vào tuổi ngoài năm mươi, trong khi Thị Lộ đang “xuân xanh tuổi mới trăng tròn lẻ”.
Vì Nguyễn Thị Lộ nổi danh tài sắc nên khi nhìn thấy nàng, Lê Thái Tông dẫu kém tới hai chục tuổi cũng mê mẩn và dùng quyền của một ông vua triệu người đẹp vào cung. Trong khuôn khổ của “Tam cương” Khổng giáo, Nguyễn Thị Lộ không thể không tuân theo.
Trong khi Vua Lê Thái Tông đang chìm đắm trong sắc đẹp và cách cư xử tinh tế của Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ thì trong chốn hậu cung, các bà phi câu kết với các phe nhóm trong triều ra sức tranh giành và củng cố quyền lực của mình bằng các mưu ma chước quỷ. Bà phi thứ hai Nguyễn Thị Anh được vua sủng ái hơn cả. Nhờ sự sủng ái này, ngay sau khi sinh con trai, Nguyễn Thị Anh và các thế lực đứng sau bà đã buộc nhà vua phế truất danh hiệu Thái tử của Nghi Dân, con của Hoàng hậu Dương Thị Bí. Và như vậy con trai của Nguyễn Thị Anh thế chỗ Nghi Dân nối ngôi Thái tử.
Mấy năm sau, người phi thứ năm của nhà vua là Ngô Thị Ngọc Dao có mang, lập tức trong hậu cung loan tin: Ngọc Dao chiêm bao thấy Tiên đồng đầu thai vào bà để làm Thái tử. Tin ấy khiến Nguyễn Thị Anh vô cùng lo lắng và căm tức. Nếu Ngọc Dao sinh quý tử sẽ ảnh hưởng đến ngôi vị của Thái tử Bang Cơ.
Thị Anh đã tìm mọi cách hãm hại Ngọc Dao và cuối cùng bà ta đã dựng ra một màn trò mê tín dị đoan, vu cho Ngọc Dao yểm bùa làm hại Thái tử Bang Cơ, rồi xin nhà vua xử người phi thứ năm đã mang thai này vào tội voi dày.
May thay, vào thời điểm ấy nhà vua đang có Nguyễn Thị Lộ bên mình can gián. Và sau đó nhờ vợ chồng vị Khai quốc công thần tấu trình hơn thiệt, vua mới nể tình không khép Ngọc Dao vào tội chết, mà đày đi châu xa.
Đến khi Ngọc Dao sinh con trai, đặt tên là Lê Tư Thành (Vua Lê Thánh Tông sau này), vợ chồng Nguyễn Trãi lại bí mật cho người đưa hai mẹ con bà đi lánh nạn tận Quảng Ninh. Sự việc đến tai Nguyễn Thị Anh và bà ta đã rắp tâm tìm cách trả thù Nguyễn Trãi và Thị Lộ.
Ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Tuất, vua Lê Thái Tông đi tuần về miền Đông, duyệt quân ở Chí Linh. Nguyễn Trãi mời vua ngự ở Côn Sơn. Ngày 4 tháng 8, vua rời Côn Sơn, mang theo Thị Lộ. Tối hôm đó vua dừng nghỉ ở Lệ Chi Viên, cùng Thị Lộ yến tiệc thâu đêm rồi băng hà.
Vua Thái Tông vừa qua đời, lập tức các quan đại thần đứng sau Nguyễn Thị Anh lập Bang Cơ lên ngôi báu, hiệu là Nhân Tông. Vì vua mới hai tuổi nên Nguyễn Thị Anh được làm Hoàng thái hậu nhiếp chính.
Cơ hội trả thù đã đến, Nguyễn Thị Anh và các quan thuộc phe nhóm của bà khép Nguyễn Trãi và vợ là Thị Lộ vào tội giết vua, bắt tru di ba họ. “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: “Nguyễn Trãi bị chém đầu cùng với tất cả thành viên gia tộc của ông (nhánh cha, mẹ và vợ) vào ngày 16 tháng 8 này trên quảng trường chợ Đông”.
Trong “Vạn Xuân”, Yveline Feray đã viết về cảnh hành hình gia tộc Nguyễn Trãi: “Đám phạm nhân bao gồm toàn bộ gia đình Nguyễn Trãi, các em trai ngài là Bảo, Lý, Phi, Hùng, các anh em họ ngài, các người con trai là Khuê, Ứng, Phù và các cháu trai ngài, tất cả mọi người miêu duệ nam giới, tựu trung gồm bốn mươi người thuộc đủ lứa tuổi, trong đó có sáu đứa trẻ… Thị Lộ đi cuối đoàn tử tội. Mái tóc mây xõa dài trên chiếc áo dài đẫm máu, nàng khác nào cánh hoa tả tơi…”.
May thay bà Phạm Thị Mẫn, vợ lẽ của Nguyễn Trãi đang mang thai đã thoát chết do đi chợ sớm, sinh được người trai là Nguyễn Anh Vũ, hậu duệ duy nhất của gia tộc Nguyễn Trãi còn sót lại.
Hai mươi hai năm sau, Vua Lê Thánh Tông đã xem xét lại vụ án Lệ Chi Viên và quyết định giải nỗi oan cho Nguyễn Trãi, di chiếu hủy án Lệ Chi Viên, ra lệnh tìm lại các di cảo thơ văn của con người tâm sáng tựa sao Khuê.
Trong “Vạn Xuân”, Feray chưa viết đến tư liệu Vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi. Bà chọn một cách kết đượm màu sắc tâm linh phương Đông. ấy là chuyện chiếc bàn thờ tại ngôi chùa Thiên Tự Phúc do Trần Nguyên Đán, Hoàng thân của nhà Trần, ông ngoại của Nguyễn Trãi dựng lên tự nhiên đổ sụp đúng vào cái ngày mà gia tộc Nguyễn Trãi bị hành hình.
Từ trong đống đổ nát của ngôi chùa, một con rắn trắng chui ra và biến mất. Câu chuyện con rắn trắng hiện thân của Nguyễn Thị Lộ báo oán đã được truyền tụng trong dân gian Việt Nam đời này qua đời khác. Điều này thật oan cho mỹ nhân Nguyễn Thị Lộ. Có lẽ vì thế mà nữ văn sĩ Feray đành phải thốt lên: “Đó chẳng phải là việc lạ thường sao?” ” (trích Mai Hiền)
Đó là chuyện ngày xưa, ngày mà Đại Việt bị hăm doạ thôn tính bởi 1 nước lạ
Ngày nay, chuyện cung đình thời xưa đang diễn lại
Mời các bạn doc chuyện xưa, nghĩ đến nay
——————————————-
Sóc Sơn mùa thu năm 2009
Dương Kỳ Anh
Trãi thường đọc sách rất khuya. Tàn ngọn nến này, Trãi liền thay ngọn nến khác. Ảnh minh hoạ, nguồn: internet
Kỳ 1: Góc Thành Nam
Nguyễn Trãi, con trai của một đại phu thời nhà Hồ tên là Nguyễn Phi Khanh. Khi giặc Ngô xâm chiếm nước ta, những đại phu “Tội phạm nhà Hồ” bị giải lên ải Nam Quan… Nguyễn Trãi cùng cha và người em trai có mặt trong đoàn tù. Đến ải Nam Quan, Trãi quỳ lạy từ biệt cha, nuốt nước mắt trở về sống trong một túp lều tranh ngoại thành Đông Quan, đêm ngày đèn sách, quyết nuôi chí lớn …
Trãi thường đọc sách rất khuya. Tàn ngọn nến này, Trãi liền thay ngọn nến khác. Một tối, Trãi vừa dở sách, lật được ba trang thì có tiếng động nhẹ trên mái nhà, Trãi dơ cao ngọn nến, nhìn lên, thấy một con rắn quấn trên xà nóc. Trãi đặt ngọn nến xuống, nhìn vào trang sách vừa giở. Máu. Ba giọt máu vừa nhỏ xuống, thấm liền ba trang sách.
Trãi rùng mình, nhớ tới một buổi sáng cách đấy chưa lâu. Trãi đang mài mực ở hiên nhà thì có tiếng kêu chiếp chiếp. Bỏ nghiên mực, Trãi chạy ra, nhìn thấy một chú gà con đang bị rắn quấn chặt. Thật lạ lùng, con rắn cứ nghển cổ nhìn Trãi, đôi mắt nó như bị thôi miên… Trãi vớ chiếc gậy Hèo để ở góc nhà dơ lên dọa. Con rắn nhảy phốc lên chiếc ghế mây Trãi vẫn thường ngồi. Trãi vụt một gậy vào giữa lưng con rắn. Chú gà con thoát nạn, chạy ra vườn. Con rắn nằm im một lúc, rồi nó ngóc đầu lên nhìn Trãi, chậm rãi bò ra khỏi nhà. “Gà đã được cứu sống, ta tha cho mi” Trãi tự bảo mình.
Nhìn ngọn nến đang lụi dần, Trãi cảm thấy toàn thân lạnh toát. Ba giọt máu, thấm liền ba trang sách, con rắn kia, ta đã tha chết cho mi, mi còn muốn gì? hay mi muốn báo cho ta điều gì đó?! Trãi lật đi, lật lại, ba trang sách thấm máu và nghĩ tới những bí ẩn của cuộc đời…
Thái học sỹ Nguyễn Trãi nổi tiếng ở Bắc Hà là một chàng trai mảnh khảnh, ít nói, thường tự giam mình trong căn nhà lá, bên trang sách, ngọn đèn. Từ bữa có điềm báo về ba giọt máu thấm trên trang sách, Trãi thường bị ám ảnh bởi những thây người bị chặt đầu, khoét mắt, máu chảy đầm đìa… mà giặc Ngô đã gây ra ngoài thành Đông Quan. Trãi thả bộ dọc bãi đất trống bên bờ sông Nhị Hà, đi qua những ruộng cói, những bãi dâu, mong tìm sự thư thái cho tâm hồn đang cuộn lên bao ý nghĩ…
Chiếu ơi, ai mua chiếu đây… Chiếu ơi !
Tiếng người con gái trong vắt, cất lên trong buổi sáng mùa xuân, hệt tiếng chim Chiền Chiện vẫn hót trên đồng Cói bao la, làm Trãi nao lòng. Mùa xuân bảng lảng khói sương, những đám mây trắng bay là là trên mặt sông. Sương, khói quẩn trên mái rạ, nhìn gần mới rõ mặt người. Một cô gái trẻ hiện ra trong màn sương với gánh chiếu trên vai. Trãi chưa kịp quay bước, người con gái đã đứng ngay trước mặt.
Mời công tử mua chiếu! Chiếu gon, chiếu hoa, chiếu…
Đặt gánh chiếu xuống vệ đường, cô gái lẹ làng nghiêng nón, nhìn chàng trai gầy gò, mảnh khảnh, dáng vẻ thư sinh đang bối rối, nửa muốn cất bước đi, nửa như muốn dừng lại.
Trãi định nói một câu gì đó, không hiểu sao khó cất thành lời. Một cô gái thôn quê mà nước da trắng hồng, mắt đen lúng liếng, bờ vai tròn, cổ tay trắng ngần, lạ thế! Một cảm giác nóng rực từ phía cô phả vào người Trãi.
Từ bữa đó, Trãi ít ra bờ sông nhưng hình ảnh cô gái lại không rời tâm trí Trãi. Nhiều hôm, Trãi ngồi trước trang sách mà không biết mình đang đọc gì! Tiếng rao lanh lảnh cứ văng vẳng bên tai. Một cảm giác bâng khuâng chưa từng có làm Trãi đứng ngồi không yên.
Trãi mài mực, viết lên vuông lụa trắng mấy câu thơ. Chàng cuộn lại, cho vào một ống trúc, như bị thôi miên, chàng đi ra bờ sông…
Chờ cô gái bán chiếu gon đến gần, chàng trao ống trúc, rồi quay bước, đi như chạy. Trở lại căn lều, chàng vẫn còn run.
“Ta hỏi cô nàng bán chiếu gon
Chiếu kia, bán đã hết hay còn.
Xuân xanh nay đã bao nhiêu tuổi,
Đã có chồng chưa? được mấy con?”
Đọc xong, cô bán chiếu mỉm cười một mình “Tưởng, nhút nhát hóa ra cũng… Chàng… phải lòng ta rồi”.
Hai ngày sau, khi Trãi vừa tỉnh giấc, đã nghe như có tiếng bước chân. Lại như tiếng gió. Tiếng thở phì phì của loài rắn hay tiếng ngáy của nông phu! Mành trúc trước cửa rung động. Như có tà áo mỏng lướt qua người chàng…
Trãi nhìn thấy ngay trên chiếc bàn tre, gần nghiên mực, chiếc ống trúc chàng đã từng bỏ vào vuông lụa trắng với mấy câu thơ gửi cô bán chiếu.
Trãi vội mở ra. Một vuông lụa màu hồng, với bốn câu thơ viết bằng mực Tàu:
“Thiếp ở đồng xa, bán chiếu gon.
Cớ sao chàng hỏi: hết hay còn?
Xuân xanh nay đã, trăng tròn lẻ
Chồng thời chưa có, có chi con.”
Trãi chạy vội ra hiên, không một bóng người. Chàng tìm quanh, khu vườn vắng lặng. Nàng đã đến đây? Thật lạ lùng! Một cô gái bán chiếu gon, sao nét chữ như người sống trong lầu son, gác tía? Nàng đối đáp mới chuẩn làm sao. Nàng thoắt ẩn, thoắt hiện? Có lẽ nào nàng không phải người thường? Vậy nàng là ai?
con tiep